GIỚI THIỆU

Các vị tổ của dòng họ Nguyễn Đình là :
1/Thuỷ tổ : NGUYỄN HỢP
2/Khai tổ : NGUYỄN HỘI
3/Bá tổ : NGUYỄN BIỆN
4/Tiên tổ : NGUYỄN XÝ

thống kê

Đang truy cập : 3
Hôm nay : 20
Tháng hiện tại : 2,199
Tổng lượt truy cập : 16,472

LỜI DẪN

VIẾT VỀ THUỶ TỔ CỦA DÒNG HỌ:
Các vị tổ của dòng họ Nguyễn Đình là :
1/Thuỷ tổ : NGUYỄN HỢP
2/Khai tổ : NGUYỄN HỘI
3/Bá tổ : NGUYỄN BIỆN
4/Tiên tổ : NGUYỄN XÝ

CÔNG ĐỨC HUY HOÀNG LƯU THẾ PHẢ ,
KHOA DANH XÁN LẠN CHÁNH TÔNG ĐƯỜNG.
....

http://www.vietnamgiapha.com/XemGiaPha/78/giapha.html
http://www.vietnamgiapha.com/XemThuyTo/78/thuy_to.html
Những đôi câu đối được treo một nơi trang nghiêm trong nhà thờ họ tộc Nguyễn Đình nhằm mục đích tôn vinh tổ tiên-tiền nhân và giáo dục con cháu học-hành tiến bộ, hướng tới tương lai.... Vì yêu mến quê hương-đất nước, vì yêu thương giống nòi-dòng họ, vì muốn tôn vinh sự nghiệp của Tổ tiên-Ông bà... Biết bao chữ VÌ thúc bách, con cháu động viên, tự xét thấy mình tài sơ trí thiển, nhưng là điều ước mơ khát vọng to lớn lâu nay, nay phải cố gắng hết sức vận động trí óc, sưu tầm tư liệu, tài liệu để viết lên quyển GIA PHẢ tộc NGUYỄN ĐÌNH (Nghệ An) này hầu mong truyền cho thế hệ mai sau.
-Thuỷ Tổ của dòng họ Nguyễn Đình là ngài Nguyễn Hợp, vốn quê ở làng Cường Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, dời nhà đến sống làng Thượng Xá (Cửa-Lò), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (thời đó, các địa danh này đều thuộc huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, Hoan châu cũ) làm nghề chài lưới, nấu muối độ nhật. Sau khi truyền nghề cho con, Ngài xuống tóc đi tu ở chùa Kim tự (tên Nôm gọi là chùa Vàng), với thiền hiệu là Pháp Đăng . ( Có tài liệu lại cho rằng: sau thờ gian sống ở Thượng xá, Ngài trở về Cường Gián sống với người con trai đầu là Nguyễn Khai rồi qua đời tại chính quán .Từ lâu vẫn chưa rõ ngày mất của cụ …).
Đức ông Nguyễn Hội ( sau này cải thành Nguyễn Đình Hội ) nối nghiệp cha truyền , chăm chỉ làm việc để nuôi gia đình và các con trai của Ngài là Phiêu Kỵ Thượng tướng quân Nguyễn Biện ( Hy sinh trong trận đánh về Tây đô - 1425 ) và Long Hổ Thượng tướng quân Nguyễn Xý ( 1397-1465 ) đã tham gia cuộc khởi nghĩa Lam sơn do Bình-định vương Lê Lợi khởi xướng và lãnh đạo rồi trở thành những KHAI QUỐC CÔNG THẦN của nhà Hậu – Lê.
Ông Nguyễn Đình Hội được chọn làm vị Khai tổ của Tộc họ Nguyễn Đình....
Chuyện kể rằng:
Ngày 23 tháng 3 năm Ất Dậu(1405), khi Đức Ông đang đốn củi, nấu muối ở Xứ Cồn Thông thì bỗng đâu Trời sai Hổ Tinh vồ chết rồi vùi xác tại Cánh đồng Lầm và bẻ củi rào mộ tử tế (do vậy nên đưọc đồng bào địa phương gọi là Mộ Hổ Táng)....
Vợ ông là bà Vũ thị Hạch đã cùng các con di dời xác ông về chôn tại núi Voi (Tượng sơn), nhưng Hổ Tinh không chịu lại bới xác mang về chỗ cũ vùi lại rồi vần đá đắp cao hơn và canh giữ cả tuần trăng, gầm thét thị uy khi có người mon men lại gần và hằng năm cứ đến ngày giỗ của Ngài đều cõng 1 con heo đến tế .....

Các con, các cháu đời sau đều tin rằng đó là điềm trời và quả nhiên dòng họ Nguyễn Đình đã phát triển không ngừng, thành công không nhỏ....

Thế tổ đời thứ nhất gồm có 02 người:
+ Bá tổ: Thái phó-Nghiêm Quận Công Nguyễn Biên, có vợ nhưng không rõ Ngài có truyền nhân hay không...???.
+ Tiên tổ: Hiển Uy Chính Nghị Anh Liệt TRUNG TRINH ĐẠI VƯƠNG Nguyễn Xý, con của Ngài có 16 nam và 8 nữ. Các cháu, chắt, chút, chít, chiu ...của Ngài thì nhiều vô kể. Ngài cũng có tên trong số Lịch Đại Đế Vương được tôn thờ tại Thế Miếu ở Huế thuộc cung bên trái của các đời vua....
Mùa xuân năm mậu tuất (1418), Đức ông chỉ huy đội thiết đột (tương tự bộ đội đặc biệt tinh nhuệ hay còn gọi là đặc công bây giờ) tham gia khởi nghĩa Lam sơn dưới cờ của Bình định vương Lê Lợi ...
Năm Mậu-tý (1428), Sau cuộc kháng chiến thắng lợi được phong thưởng hàm Bảo Chính Công Thần.
....
Năm kỷ-mão (1459), Lạng-sơn-vương Nghi-Dân đồng mưu với Lê đắc Ninh, Phạm Đồn, Phan Ban và Trần Lăng, nửa đêm trèo thành vào giết vua Lê Nhân-tôn và Hoàng-thái-hậu, tự xưng làm vua, rồi cho sứ sang Tàu cầu phong. Nghi Dân cướp ngôi vua được 8 tháng, nhưng vì tính hay nghe lời dua-nịnh, chém giết kẻ cựu thần, cho nên lòng người không ai phục, đến tháng sáu năm canh-thìn (1460) các quan đại-thần là Nguyễn Xý, Đinh Liệt lập mưu chém được Phạm Đồn và Phan Ban ở giữa nghị-sự-đường, rồi đóng cữa thành lại vào bắt Nghi-Dân giam lại, rước con thứ tư vua Thái-tôn là Bình-nguyên-vương Tư-Thành lên làm vua, tức là vua Thánh-tôn (1460-1497). Niên-hiệu: Quang Thuận (1460 - 1469) Hồng Đức (1470 - 1497).
(Việt nam sử lược)
Năm Quang thuận thứ nhất(1460), khi mới lên ngôi, vua Lê Thánh-Tôn có ban sắc mệnh :
" Xét Nguyễn Xý đây :
Khí độ trầm hùng,
Tính người cương đại.
Giúp Cao hoàng khi mở nước, trăm trận gian nan.
Phò Tiên khảo lúc thủ thành, hết lòng giúp rập.
Trước sau giữ trọn tiết làm tôi làm thần,
Ra vào hết chức phận tướng văn tướng võ.
Giữ mình có đạo, hồn nhiên như ngọc chẳng khoe tươi.
Nghiêm mặt ở triều, lẫm liệt như thanh gươm mới tuốt.
Các quan đều tưởng mộ phong thái,
Bốn biển đều trông thấy uy danh.
......
Công kém gì đình thần thời Hán,
Việc hơn cả bá quan nhà Đường.
......
Chống ngoại xâm, giúp hoàng đế, giốc hết lòng với nước nhà.
Bình nội loạn, chính ngôi vua, trong đời công lao hơn cả.
......".
(trích Đại Việt thông sử)
Năm Giáp Thân, Quang Thuận năm thứ 5 [1464], Đức ông Nguyễn Xý ốm. Vua Lê Thánh-tôn dụ rằng:
" Ngày xưa trẫm làm phiên vương, nhởn nhơ chốn cửa son, không có ý lên ngôi báu. Vì bọn khanh đồng lòng suy tôn, diệt bọn phản nghịch, đưa trẫm lên ngôi báu, đến nay đã 5 năm. Thú vui con hát, vũ nữ thì khanh không bằng lòng họ Thạch họ Cao nhà Tống, mà lo lắng đến héo ruột khô tim thì khanh hơn hẳn họ Phòng, họ Đỗ đời Đường. Công lao đó trẫm chưa báo đền, bệnh khanh sao đã trẫm trọng thế? Nếu khanh nghĩ đến nước, thì cơm cháo phải cố mà ăn, nếu khanh lo cho trẫm thì thuốc thang phải cố mà uống. Đối với Sư Hồi, khanh chẳng phải là thân phụ đó sao? Hãy nên dốc lòng hết lòng thành kính của mình. Người xưa cúng trời tế quỷ để trừ tai ách, khanh thử nghĩ xem!".
(Đại Việt sử kí toàn thư)
Đức ông mất ngày Giáp Thìn(30-10)năm Ất Dậu, niên hiệu Quang Thuận thứ 5 [1465], sau 47 năm chiến đấu, phụng sự cho triều Lê sơ với 4 đời vua và đặt nền móng cho thời kỳ Phục hưng... Sau khi qua đời, ngài được truy phong:
+ THƯỢNG-THƯỢNG ĐẲNG TÔN THẦN.
+ THƯỢNG ĐẲNG PHÚC THẦN.
+ Hiển Uy Chính Nghị Anh Liệt TRUNG TRINH ĐẠI VƯƠNG.
+ Đền thờ của Ngài ở Cửa Lò được công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia (1990).
Thế tổ đời thứ 2 gồm có 24 người:
16 nam và 8 nữ, trong đó có 7 người giữ các chức vụ quan trọng dưới thời Hồng Đức của vua Lê Thánh tông, 8 người điều khiển 8 đạo quân trấn thủ các vùng xung yếu của nước Đại Việt ta lúc bấy giờ và 1 người hy sinh trong công cuộc bình nội loạn (1459). 8 nữ đều được gả về làm dâu con của những gia tộc lớn thời bấy giờ...